Việt Nam nằm trong TOP tăng trưởng tốt nhất TG
"Là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nông nghiệp vẫn là một trong những trụ cột của nền kinh tế Việt Nam. Nhưng điều này đang nhanh chóng thay đổi khi chính phủ hướng tới tự do hóa và đa dạng hóa nền kinh tế", HSBC nhận định.
Những lo lắng với cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, sự phục hồi chậm chạp tại Mỹ và lo ngại về một cuộc "hạ cánh cứng" của nền kinh tế Trung Quốc đã khiến cho các nhà đầu tư toàn cầu tìm kiếm những thị trường mới. Với các nhà đầu tư dài hạn điều này có nghĩa là xác định các nền kinh tế có triển vọng tăng trưởng mạnh mẽ được thúc đẩy bởi những lợi thế như nhân khẩu học, tài nguyên thiên nhiên hoặc địa lý.
Danh sách 10 nước có triển vọng tăng trưởng dài hạn tốt nhất dưới đây được đưa ra dựa trên một báo cáo từ HSBC có tiêu đề "Thế giới năm 2050" dự đoán về bối cảnh kinh tế trong 40 năm tới. Một số nền kinh tế vốn đã được biết là cường quốc kinh tế trong khi một số nước khác có thể gây ngạc nhiên.
Việc xếp hạng bao gồm một số nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới cũng như những nước sẽ có GDP lớn nhất về kích thước tuyệt đối vào năm 2050 và không tính những nền kinh tế được dự đoán là có GDP ít hơn 400 tỷ USD vào năm 2050. Con số GDP năm 2010 và GDP dự đoán vào năm 2050 được lấy từ báo cáo của HSBC và tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong giai đoạn 40 năm được tính dựa theo những số liệu trong báo cáo.
10. Algeria
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 5%
GDP năm 2010: 76 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 538 tỷ USD.

Algeria, nước có trữ lượng dầu lớn thứ ba châu Phi là một trong những nước giàu nhất châu lục và sự giàu có của nước này có khả năng còn tăng thêm nữa trong các thập kỷ tiếp theo. Trữ lượng dầu 12 tỷ thùng có vai trò quan trọng trong việc thu hút các công ty năng lượng nước ngoài gồm cả Anadarko và A.P.Moller-Maersk tới nước này. Theo IMF, sản phẩm dầu mỏ, xương sống của nền kinh tế, chiếm tới 95% xuất khẩu của Algeira.
Doanh thu từ xuất khẩu hàng hóa cho phép chính phủ Algeria tích lũy tiết kiệm lớn trong quỹ bình ổn dầu, ước tính lên tới 55 tỷ USD, giúp bảo vệ nền kinh tế khỏi sự sụt giảm giá năng lượng trong năm 2009. Việc thúc đẩy tiêu dùng hộ gia đình và mở rộng tài khóa của chính phủ cũng giúp thúc đẩy tăng trưởng trong những năm gần đây. Vào năm 2009, Tổng thống Abdelaziz Bouteflika đã công bố kế hoạch năm năm để tăng chi tiêu chính phủ từ 120 tỷ USD lên tới 150 tỷ USD để cải thiện cơ sở hạ tầng quốc gia, tạo ra 3 triệu việc làm và xây dựng 1 triệu ngôi nhà mới.
Mặc dù có đặc điểm nhân khẩu học thuận lợi - hơn một nửa dân số dưới 35 tuổi thì nước này vẫn phải đối mặt với mức độ thanh niên thất nghiệp cao. Hơn 20% những người trong độ tuổi từ 16 đến 24 thất nghiệp. Đã có vài cuộc biểu tình xảy ra tại Algeria trong suốt mùa xuân năm ngoái.
9. Trung Quốc
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 5,1%
GDP năm 2010: 3.511 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 25.334 tỷ USD

Không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc, động cơ tăng trưởng toàn cầu hiện nay, là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong 4 thập kỷ tới. Nhưng điều đáng lưu ý là kích thước của nền kinh tế đại lục, hiện bằng một phần ba kích thước kinh tế Mỹ, được dự đoán là sẽ tăng trưởng hơn gấp 7 lần và vượt qua Mỹ vào năm 2050. Chính vì vậy mà không có gì là lạ khi các công ty nước ngoài trong mọi lĩnh vực đang đổ xô tới Trung Quốc để thành lập các cửa hàng và tận dụng sự tăng trưởng của nước này. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, nước này hiện là địa chỉ tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu thế giới với 116 tỷ USD vào năm 2011.
Sự phát triển ngày càng tăng giữa các công ty Trung Quốc cũng kéo theo sự gia tăng trong đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc làm gia tăng ảnh hưởng của nước này đối với nền kinh tế thế giới. Chỉ riêng trong năm 2011, Trung Quốc đã đầu tư 1.392 dự án ở nước ngoài tại 132 quốc gia với tổng giá trị đầu tư lên tới 332 tỷ USD.
Được mệnh danh là "nhà máy sản xuất thế giới", nền kinh tế Trung Quốc được thúc đẩy phần lớn bởi lĩnh vực xuất khẩu. Tuy nhiên, kế hoạch 5 năm gần nhất của nước này hướng tới việc chuyển đổi mục tiêu của nền kinh tế sang phát triển thị trường nội bộ. Một cách để làm được điều này là gia tăng sức mua của dân số 1,36 tỷ dân bằng việc thúc đẩy tạo việc làm và thực hiện các yêu cầu mức lương tối thiểu. Gần đây, chính phủ Trung Quốc đã cam kết tăng lương tối thiểu 13% một năm tới năm 2015 và khởi động các biện pháp để tạo ra 45 triệu việc làm mới.
8. Ai Cập
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 5,1%
GDP năm 2010: 160 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 1.165 tỷ USD

Ai Cập, nền kinh tế lớn thứ hai và đông dân nhất thế giới Ả Rập, là trung tâm cho các tuyến đường thương mại giữa châu Phi, châu Âu và châu Á do có vị trí chiến lược.
Nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu nông nghiệp và dầu hỏa cũng như du lịch. Là nhà của một trong những địa điểm du lịch hút khách nhất thế giới, kim tự tháp Giza, lĩnh vực du lịch của Ai Cập sử dụng 10% lực lượng lao động toàn quốc và chiếm tới 11% GDP.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước này lại mong manh nhất trong bảng xếp hạng do những bất ổn chính trị. Các cuộc biểu tình chống chính phủ bạo lực bắt đầu vào tháng 1 năm 2011 đã lật đổ chính phủ của ông Hosni Mubarak vẫn tiếp tục vào năm 2012. Theo ngân hàng đầu tư Credit Agricole, mỗi ngày của những cuộc biểu tình này làm nền kinh tế tổn thất tới 310 triệu USD. Các lĩnh vực du lịch, sản xuất và đầu tư trực tiếp nước ngoài là bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tình trạng bất ổn. Ví dụ, theo số liệu của ngân hàng trung ương, FDI giảm 93% trong chín tháng đầu năm 2011.
Trong khi sự bất ổn chính trị đang che phủ triển vọng của nền kinh tế, một số nhà kinh tế tin rằng cuộc cách mạng, nếu thành công, có thể mang lại những thay đổi tích cực bù đắp lớn hơn cho những tổn thất ngắn hạn trước mắt, bao gồm cả việc giảm tham nhũng và cải thiện sự phân phối của cải.
7. Việt Nam
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 5,2%
GDP năm 2010: 59 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 451 tỷ USD

Là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nông nghiệp vẫn là một trong những trụ cột của nền kinh tế Việt Nam. Nhưng điều này đang nhanh chóng thay đổi khi chính phủ hướng tới tự do hóa và đa dạng hóa nền kinh tế.
Trong khi các doanh nghiệp nhà nước đóng góp 40% vào GDP, đầu tư nước ngoài đã tăng lên kể từ khi đất nước trở thành thành viên chính thức của WTO năm 2007.
Chi phí sản xuất chi phí thấp tại Việt Nam đã thu hút làn sóng đầu tư từ nước ngoài, đặc biệt là các công ty quần áo bán lẻ và các công ty công nghệ đang tìm kiếm một giải pháp thay thế rẻ hơn Trung Quốc.
Intel, công ty công nghệ quốc tế đầu tiên đã đầu tư lớn tại Việt Nam trong 6 năm qua, đã giúp nâng cao vị thế điểm đến đầu tư cho Việt Nam. Danh sách dài các công ty gồm Samsung, Canon và Foxconn đang đầu tư hàng triệu đô vào việc phát triển hoạt động sản xuất tại nước này. Các nhà phân tích cho rằng điều này giúp đặt nền móng cho việc Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất điển tử lớn tiếp theo của châu Á.
Tuy vậy, tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam trong những năm gần đây cũng đi kèm với một cái giá nhất định. Các chính sách tăng trưởng của đất nước đã dẫn đến lạm phát kỷ lục. Trong năm 2011, giá tiêu dùng đã tăng hơn 18%, tăng gấp đôi tỷ lệ trong năm 2010.
6. Malaysia
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 5,3%
GDP năm 2010: 146 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 116 tỷ USD

Theo World Factbook của CIA, Malaysia, nền kinh tế lớn thứ ba Đông Nam Á cũng là một trong những nền kinh tế tốt nhất trong khu vực với mức tăng trưởng trung bình 6,5% mỗi năm kể từ khi giành độc lập vào năm 1957.
Đã từng phụ thuộc vào khai thác mỏ và xuất khẩu nông nghiệp như thiếc và cao su, hiện Malaysia có thể tự hào về một nền kinh tế đa dạng - một trong những yếu tố chính giúp đất nước phát triển bật trở lại từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 nhanh hơn các nước khác. Hiện Malaysia là một trong những nhà xuất khẩu thiết bị bán dẫn, hàng điện tử và các tấm pin mặt trời lớn nhất thế giới và là một trong những trung tâm toàn cầu cho các ngân hàng Hồi giáo.
Nền kinh tế cũng được hỗ trợ bởi cơ sở người tiêu dùng trong nước ngày càng tăng. Chính phủ nước này hy vọng sẽ thúc đẩy được nền tảng này hơn nữa trong các năm tiếp theo. Vào năm 2010, thủ tướng nước này tiết lộ kế học - Mô hình kinh tế mới - nhằm mục đích tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người tại Malaysia vào năm 2020.
Tuy nhiên, không phải mọi thứ đều màu hồng với nền kinh tế Đông Nam Á này. Malaysia đang phải đối mặt với sự chảy máu chất xám tới các nước phát triển. Số lượng người Malaysia tìm đến các quốc gia như Singapore và Úc tìm kiếm nền giáo dục và các cơ hội nghề nghiệp tốt hơn ngày càng tăng. Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Malaysia, việc thiếu kỹ năng đang làm tổn thương khả năng thu hút các công ty kỹ thuật, hóa dầu, công nghệ cao hơn từ nước ngoài đến nước này.
5. Bangladesh
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 5,5%
GDP năm 2010: 78 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 673 tỷ USD

Bangladesh là nước nghèo nhất để xếp hạng với khoảng 30% dân số sống dưới mức chuẩn nghèo quốc tế, theo các quan chức chính phủ, tương đương với 45 triệu người sống ở mức 1,25 USD / ngày. Nhưng mọi việc sẽ khác đi trong 40 năm tới. Theo HSBC, GDP bình quân đầu người của nước này sẽ tăng gấp sáu lần hiện giờ.
Một trong những tài sản lớn nhất của nước này là lực lượng lao động giá rẻ ngày càng tăng. Điều này thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, ví như JC Penney, Wal-Mart, H&M, Marks& Spencer và Zaza, bơm tiền vào lĩnh vực sản xuất của nước này. Sản xuất may mặc sẵn hiện là một phần quan trọng của nền kinh tế sử dụng 3,5 triệu lao động và chiếm hơn 75% xuất khẩu của Bangladesh.
Để khuyến khích đầu tư trong lĩnh vực này, Chính phủ đã thực hiện sáng kiến phát triển "các làng dệt may" trên toàn quốc. Công ty tư vấn McKinsey tin rằng Bangladesh có thể lấp đầu khoảng các sản xuất giá trị thấp như các nhà sản xuất Trung Quốc chuyển tới chuỗi giá trị.
Trữ lượng khí đốt trong và ngoài khơi của Bangladesh cũng được coi là một nguồn giàu có tiềm năng. Năm ngoái, các công ty năng lượng khổng lồ gồm Chevron và Santos, đã rót hàng trăm triệu USD vào tìm kiếm khí đốt ở khu vực nước sâu phần lớn chưa được khai thác của vịnh Bengal.
4. Ấn Độ
Tăng trưởng dự kiến hàng năm: 5,5%
GDP năm 2010: 960 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 8.165 tỷ USD.

Ấn Độ, cường quốc kinh tế Nam Á, dự kiến sẽ nhảy vọt sáu điểm, thay thế Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới vào năm 2050.
Không giống đối thủ Trung Quốc trong khu vực, "chú voi mới nổi" của châu Á đã trải nghiệm sự tăng trưởng mạnh mẽ kể từ những năm 1990 sau động thái bãi bỏ kiểm soát nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài của chính phủ. Những cuộc cải cách kinh tế và nhân khẩu học thuận lợi đã giúp Ấn Độ nổi lên như một trong những nền kinh tế tiên phong tại châu Á.
Dân số trẻ và đang phát triển của Ấn Độ cung cấp một lực lượng lao động lớn và thị trường tiêu dùng bùng nổ - vốn là những yếu tố được coi là động lực quan trọng cho sự tăng trưởng dài hạn. Tầng lớp trung lưu phát triển mạnh của đất nước, nguồn nhu cầu trong nước quan trọng lên tới khoảng 300 triệu người và đang tiến tới bằng toàn bộ dân số Hoa Kỳ.
Những yếu tố này đã định vị Ấn Độ như một điểm đến ưu tiến cho đầu tư nước ngoài trong khu vực. Những nhà đầu tư mới nhất vào thị trường này gồm chuỗi cửa hàng khổng lồ Starbucks và công ty mua bán trực tuyến khổng lồ Amazon. Theo Ernst & Young, trong 11 tháng đầu năm 2011, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước này lên tới 50,81 tỷ USD, tăng 13% so với năm trước.
3. Peru
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 5,5%
GDP năm 2010: 85 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 735 tỷ USD

Được coi là ngôi sao đang lên của Nam Mỹ, Peru đang tận hưởng sự mở rộng kinh tế dài nhất với mức tăng trưởng trung bình 7 trong giai đoạn 2003- 2010. Tăng trưởng được dự đoán là vẫn tiếp tục mạnh trong các thập kỷ tới, HSBC dự đoán nước này sẽ nhảy hơn 20 bậc để trở thành nền kinh tế lớn thứ 26 thế giới vào 2050.
Quốc gia này từng bị tàn phá bởi cuộc xung đột vũ trang kéo dài 20 năm với quân du kích theo chủ nghĩa cộng sản của Mao Trạch Đông trong giai đoạn 1980 -2000 đã thành công trong việc phát triển bật trở lại nhờ bước nhảy vọt trong đầu tư tư nhân. Chính phủ ủng hộ kinh doanh của nước này có vai trò quan trọng trong việc này đã khuyến khích phân cấp quản lý và minh bạch hơn.
Là nhà sản xuất đồng và bạc lớn thứ hai thế giới, Peru đã thu hút được đầu tư lớn vào khai thác mỏ, chiếm tới 60% xuất khẩu của nó. Lĩnh vực tài nguyên đã thu hút hơn 18 tỷ USD trong đầu tư, chủ yếu là nước ngoài, trong vòng 15 năm qua.
Tuy nhiên sự bùng nổ khai thác mỏ đã xảy ra mà không có sự đề kháng. Nhà chức trách nước này đã phải đối mặt với sự phản đối từ các nhóm người bản địa trong khu vực Amazon và núi Andes cho rằng các dự án khai thác mỏ đang làm cạn kiệt vùng đất tổ tiên của họ.
Ngoài ra, còn có một tác động không mong muốn tới nền kinh tế là nạn buôn bán ma túy. Trong năm 2010, Peru đã vượt qua Columbia trở thành nhà sản xuất hàng đầu lá coca, nguồn gốc của cocaine. Theo AFP, buôn bán ma túy tạo ra 22 tỷ USD trong năm 2009, gần 17% GDP của Peru.
2. Ukraine
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 6%
GDP năm 2010: 45 tỷ USD
GDP dự kiến năm 2050: 462 tỷ USD

Nền kinh tế Ukraine được dự đoán là tăng gấp 10 lần trong vòng 40 năm tới, vượt hẳn lên so với các nước khác ở châu Âu.
Nước cộng hòa Xô Viết cũ cũng được ban tặng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú gồm đất nông nghiệp chất lượng cao và các mỏ khoáng sản. Theo OECD, nước này cũng có quặng mangan lớn nhất thế giới. Các tài nguyên khoáng sản khác, như sắt và than, phong phú cũng cho phép nước này trở thành một trong những nhà máy luyện kim lớn nhất tại Đông Âu.
Theo OECD, nhu cầu đối với xuất khẩu thép hàng đầu của Ukraine cộng với tiêu dùng trong nước mạnh mẽ được thúc đẩy bởi tăng lương hưu và tiền lương dẫn đến tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm lên tới 7,5% cho nền kinh tế trong giai đoạn 2001-2008. Tuy nhiên, đất nước cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi suy thoái kinh tế toàn cầu làm giảm hơn một nửa dòng vốn FDI và dẫn đến sự thu hẹp GDP 15% trong năm 2009.
Tuy vậy, trong năm 2010, đất nước đã tăng trưởng tích cực trở lại bởi sự phục hồi trong xuất khẩu. Theo cuốn World Factbook của CIA, giá trị xuất khẩu của Ukraine năm 2010 là 52 tỷ USD, tăng 30% so với năm ngoái.
Ngoài việc tiếp cận các tài nguyên, một trong những lợi thế cạnh tranh khác của Ukraine là sự tập trung vào giáo dục và phát triển nguồn vốn con người, được HSBC cho là chìa khóa để thúc đẩy tăng trưởng trong các thập kỷ tới. Đất nước này tự hào với tỷ lệ biết chữ gần 100% và lực lượng lao động có trình độ cao. Đây là một yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư.
1. Philippines
Tăng trưởng hàng năm dự kiến: 7%
GDP năm 2010: 112 tỷ USD
GDP dự kiến 2050: 1.688 tỷ USD

Philippines có dân số tăng trưởng nhanh nhất tại châu Á. Dân số nước này được dự đoán tăng gần 70% trong vòng 40 năm tới. HSBC tin rằng sự kết hợp giữa nhân khẩu học mạnh mẽ và các nền tảng cơ bản mạnh mẽ sẽ thúc đẩy nền kinh tế nước này nhảy vọt 27 bậc từ vị trí hiện tại là 43 tới vị trí thứ 16 trong danh sách những nền kinh tế lớn nhất thế giới vào năm 2050.
Đất nước này là một trong những nước xuất khẩu lao động lớn nhất thế giới với hơn 9 triệu người Philippines làm việc ở nước ngoài, theo số liệu mới nhất từ Ủy ban người Philippines ở nước ngoài. Năm 2010, những người Philippines làm việc ở nước ngoài đã chuyển gần 19 tỷ USD về nước thông qua hình thức kiều hối.
Gần đây, ngành công nghiệp gia công phần mềm xử lý kinh doanh phát triển nhanh chóng của nước này đã giúp giữ lao động ở lại trong nước. Theo Hiệp hội trung tâm liên lạc của người Philippines, ước tính, gần 350.000 người Philippines làm việc tại các trung tâm dịch vụ hỗ trợ, so với con số 330.000 người Ấn Độ. Ngành công nghiệp được dự tính là cung cấp hơn 1 triệu việc làm trong vòng hai năm.
Nền kinh tế tập trung vào lĩnh vực dịch vụ và tiêu dùng trong nước cũng như ít liên quan tới thị trường tài chính toàn cầu đã giúp nước này thoát khỏi cuộc suy thoái sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.